Mừng Chúa Giáng Sinh - Lễ đêm

Ngày 24/12/2017

 

MỘT HÀI NHI ĐÃ SINH RA

 

 Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

Ngày 20.11.2012, cuốn cuối cùng trong bộ sách ba cuốn về cuộc đời Chúa Giêsu Nazareth của tác giả Joseph Ratzinger (ĐGH Bênêđictô XVI), mang tựa đề “Thời thơ ấu của Chúa Giêsu” đã có mặt tại các nhà sách trên 50 nước. Sách do hai nhà xuất bản Rizzoli và Vatican hợp tác thực hiện bằng 8 ngôn ngữ khác nhau (Ý, Đức, Croat, Pháp, Anh, Ba Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) với ấn bản đầu tiên là một triệu bản. Trong những tháng tới sau đó, tập sách sẽ được dịch ra 20 ngôn ngữ khác và phát hành tại 72 quốc gia.

 

Nội dung cuốn sách bao gồm 4 chương giải trình về: gia phả Chúa Giêsu; Đức Maria và tiếng Fiat; biến cố Chúa Giêsu sinh ra tại Belem; và việc thăm viếng của các đạo sĩ.

 

Sáng 20.11, tại Hội trường Piô X, Đức Hồng Y Gianfranco Ravasi, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Văn Hóa đã giới thiệu với báo chí tác phẩm mới này và đã ghi nhận: cuốn sách như một công trình tô đậm sự tương tác giữa lịch sử và đức tin, vì xét cho cùng Hài Nhi Giêsu là chính trọng tâm của cuốn sách. Tất cả có được ý nghĩa vì Một Hài Nhi đã sinh ra. (VIS, 20-11-2012).

 

Bài đọc 1 trong Lễ Đêm Giáng Sinh trích từ (Is 9,1-6) là lời sấm thích hợp rõ ràng khơi lên mầu nhiệm Một Hài Nhi đã sinh ra.

 

Vào năm 734-732, các đạo quân Assyrie đánh chiếm vùng rộng lớn của vương quốc Miền Bắc, đất nước rơi vào ách nô lệ lầm than (x.2V 15,29). Vương quốc Giuđa Miền Nam bé nhỏ chỉ giữ được một phần độc lập nhờ chấp nhận quyền bảo hộ của vương quốc Assyrie. Dân chúng phải nếm nhục nhằn của cảnh tôi đòi (Is 8,23). Sự tang tóc và cảnh tôi đòi làm cho những miền này trở thành “miền tăm tối”. Gợi lại hình ảnh “một dân đi trong tối tăm” (Is 9,1), ngôn sứ nghĩ đến một đoàn người bị phát lưu đang tiến về miền đất lưu đày. Nhưng Thiên Chúa sẽ ra tay cứu thoát Dân Người, sẽ ban tặng “một quyền bính rộng lớn” và “một nền hoà bình vô tận trên ngai Đavit và vương quốc của Người” (Is 9,6). Niềm hy vọng của dân tộc về một vương quốc lý tưởng được thực hiện bởi một Hài Nhi “vì một trẻ thơ chào đời để cứu ta, một người con đã ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người cha muôn thuở. Thủ Lãnh hoà bình.” (Is 9,5).

 

Lời sấm trên đây là một ám chỉ về việc sinh ra của một vị thừa kế ngai báu và sự thực hiện “dấu Emmanuel” đã được nói đến trong sách Isaia (Is 7,14). Đối với ngôn sứ, việc Đấng sinh ra này đã là một biểu lộ quan phòng về sự vững bền của lời hứa cho triều đại Đavit (x. 2Sm 16). Giữa những thảm cảnh và nổi khắc khoải của quốc gia, Isaia đã tuyên xưng niềm tin của mình vào việc xuất hiện của vị Vua lý tưởng. Niềm tín thác của ngôn sứ vào lòng trung tín của Yahvê thật lớn lao. Trái với những kẻ chán chường, những kẻ hoài nghi hay những người chỉ muốn tìm sự trợ lực nơi những liên minh trần thế, vị ngôn sứ nhắc lại tính hiện thực trường tồn của sự lựa chọn: bất chấp những nổi thăng trầm hiện tại, niềm tin của Isaia vào Thiên Chúa Giao Ước đã làm cho ông dự đoán thấy sự viên mãn đáng mong ước của quốc gia. Bài thơ Is 9,1-6 được linh hứng nên đã được đem vào dòng liên tục của truyền thống Kinh Thánh; nó chuẩn bị cho những mạc khải sau này và soi sáng cho niềm hy vọng của Dân Chúa về Đấng Thiên Sai. Bài thơ loan báo sự xuất hiện của Chúa Giêsu và vương quốc thiêng liêng của Người. (theo Joseph Ponthot, “Un enfant nous est né”).

 

Phụng vụ ngày lễ Giáng sinh đã ưu tiên chọn lựa bài thơ Isaia nhằm hướng Cộng đoàn về Tin Mừng trọng đại: “Hôm nay Đấng Cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành Vua Đavit, Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2,11). Dấu chỉ để nhận ra Người là: “Một trẻ sơ sinh bọc tả, nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12). Từ nay, Thiên Chúa không còn đến với con người qua trung gian mà là Con Một được tặng ban cho nhân loại. Tình yêu Thiên Chúa không chỉ là lời hứa mà bằng chính nghĩa cử cao đẹp Ngôi Lời nhập thể. Từ nay, lời hứa cứu độ đã được thực hiện nơi Một Hài Nhi đã sinh ra. Lời hứa ngọt ngào từ thuở địa đàng khi Nguyên Tổ sa ngã đánh rơi khỏi tầm tay trái táo hạnh phúc (St 3,15). Rồi trải qua hàng ngàn năm bằng sự loan báo của các Ngôn sứ, Thiên Chúa vẫn mãi lời hứa tình yêu cứu độ. Một Hài Nhi đã sinh ra là điểm nhấn vĩ đại đánh dấu lịch sử Tình Yêu Thiên Chúa.

 

Một Hài Nhi đã sinh ra vào một đêm đông giá rét trong hang bò lừa ngoài đồng hoang nghèo hèn, dưới mắt người đương thời không những bình thường mà còn tầm thường hơn những hài nhi khác. Nhưng sự chào đời của Hài Nhi này lại là một niềm vui cao cả, một sự kiện đặc biệt của lịch sử nhân loại, là sự “hoàn tất” Lời Hứa của Thiên Chúa, là trung tâm điểm mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa, là đỉnh cao và là chủ đích của Thánh Kinh.

 

Một Hài Nhi đã sinh ra là Tin Mừng trọng đại cho nhân loại.

 

Thánh Matthêu và Luca đã viết những bản gia phả của Chúa Giêsu. Gia phả theo thánh Matthêu cho thấy Hài Nhi thuộc về hoàng tộc Đavít và là con cháu tổ phụ Abraham; còn gia phả theo thánh Luca mang một nhãn giới rộng rãi hơn, trình bày Hài Nhi thuộc về gia đình nhân loại bao gồm mọi thành phần đi từ thánh Giuse ngược lên cho tới con người đầu tiên là Ađam. Tổng hợp cả hai bản gia phả này, ta nhận biết lý lịch nhân loại của Hài Nhi, dẫu gốc nguồn là Thiên Chúa, đã hóa thân làm người, giống chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi. Vì thế, theo lời sấm của Isaia (7,14), Hài Nhi được gọi tên là Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.

 

Và rồi bằng câu mở đầu trình thuật Giáng Sinh “Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ” (Lc 2,1), Giuse và Maria theo lệnh ấy phải lên thành vua Đavit là Bêlem và Hài Nhi đã giáng sinh tại đó, thánh sử đã toát lược cả một thời gian và không gian lịch sử, không chỉ chứng nghiệm việc Hài Nhi Giêsu sinh ra là thật, mà còn hữu ý khẳng định một khi Ngôi Lời từ đời đời hóa thành xác phàm, cũng bị ghi dấu bởi lịch sử trần thế, có thể được nghiên cứu truy tìm như bất cứ con người nào hiện hữu thật sự trên trần thế. Chúa dựng nên đất trời đã làm người trong trời đất. Chúa đến trong thế gian không như kẻ rong chơi nhàn tản vi hành, mà như người đồng hành đón nhận kiếp phận con người với những định luật nhân sinh và quy luật pháp định trần thế. “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta” (Ga 1,14).

 

Một Hài Nhi đã sinh ra mang một ý nghĩa hiện sinh sâu sắc: Thiên Chúa trở nên một trẻ thơ. Ngắm nhìn trẻ thơ Giêsu trong máng cỏ nghèo hèn, chúng ta nghĩ tới bao trẻ thơ sinh ra hôm nay đang chịu cảnh đói nghèo thiếu thốn. Thiếu thốn vật chất, thiếu thốn tình thương. Thiếu thốn nhà cửa, thiếu thốn một mái gia đình. Giá lạnh của rét mướt và giá lạnh bởi thiếu vòng tay ôm ấp vỗ về. Hài Nhi Giêsu ấm áp trong tình thương của cha mẹ, bàn tay nâng niu của Đức Mẹ, ánh mắt âu yếm của Thánh Giuse. Đó là bầu khí gia đình đầm ấm. Gia đình là chiếc nôi êm ái vỗ về giấc ngũ trẻ thơ. Gia đình là lương thực bồi bổ, là thành trì bảo vệ tuổi thơ. Không có cảnh nghèo nào khốn cùng hơn cảnh trẻ thơ thiếu tình thương. Không có mái nhà nào rách nát hơn cảnh gia đình tan vỡ. Không có mùa đông nào lạnh giá hơn mùa đông của trái tim.

 

Một Hài Nhi đã sinh ra là tin vui cho toàn nhân loại.

 

Hài Nhi chính là Thiên Chúa Giáng Sinh đem ơn cứu rỗi cho hết mọi loài. Ngài là Đấng cứu nhân độ thế. Để cứu thế, Thiên Chúa đã nhập thế; và để cứu người, Thiên Chúa đã làm người. Hài Nhi sinh ra không là tin vui cho riêng ai, mà là tin vui cho toàn nhân loại, cho hết mọi người từ thuở tổ tông cho đến ngày tận thế. Chính vì vậy khi loan tin cho các mục đồng, thiên thần đã giải thích: “Ta báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavit, Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2,10-11).

 

Nếu tội tổ tông gây tác hại là làm mất tình trạng ơn phúc và để cho tội lỗi lẻn vào thế giới, từ đó đau khổ và sự chết mặc sức hoành hành, thì việc Hài Nhi Giêsu sinh đến trong xác phàm lại là khởi đầu một mùa giải thoát. Hết rồi đêm tối vì Hài Nhi là ánh sáng, hết rồi lỗi tội vì Hài Nhi là thánh ân, hết rồi chết chóc vì Hài Nhi là nguồn sống, và hết rồi sầu muộn vì Hài Nhi là thiên đàng. Như vậy, xét cho cùng, khi xuống thế, Thiên Chúa đâu có rời bỏ thiên đàng, mà đích thực Ngài đã đem thiên đàng vào cõi trần gian, để mối tình trời đất bị cắt đứt bao đời lại được kết nối một cách mầu nhiệm cho vinh danh trời cao và cho an bình dưới thế.

 

Một Hài Nhi đã sinh ra chính là trọng tâm của đêm nay. Với niềm tin kính thẳm sâu và trong lòng cung chiêm thờ lạy, ta hãy hướng về hang đá để đón nhận niềm vui trọng đại và quyết tâm mỗi người từ cương vị và góc độ nhiệm vụ của mình, hãy trở thành niềm vui cho người khác, như bênh đỡ những người già cả cô thế cô thân, giúp đỡ những người cơ nhỡ thiếu thốn hoặc nâng đỡ những ai vì yếu đuối một thời đã rơi vào đam mê lầm lạc mà xa rời tình thương của Chúa. Nếu niềm vui đêm nay hệ tại việc Hài Nhi sinh ra cho chúng ta, thì trong Hài Nhi Giêsu, chúng ta cũng nhận lấy sức mạnh mà lên đường trở thành niềm vui cho người xung quanh mình. 

 

 

ĐÊM THÁNH – ĐÊM CHAN HÒA ÁNH SÁNG

(Is 9, 2-4. 6-7 (Hr 1-3. 5-6); Tt 2, 11-14; Lc 2, 1-14)

 

Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

 

Có rất nhiều người thuộc các tôn giáo bạn thường hay thắc mắc: “Tại sao lễ Giáng Sinh lại được cử hành vào ban đêm?” Khi mừng lễ như vậy liệu có tính lịch sử không?”.

 

Thực ra thời khắc Con Thiên Chúa hạ sinh không đề cao ý nghĩa và giá trị lịch sử cho bằng ý nghĩa thần học, thiêng liêng của ngày lễ.

 

Vì thế, khi cử hành lễ Giáng Sinh vào đêm ngày 24, rạng sáng ngày 25, Giáo Hội muốn làm nổi bật lên vai trò và sứ mạng của Đấng Thiên Sai, vì Ngài là: “Ánh Sáng đến để chiếu soi nhân loại”.

 

1. Ánh sáng tách lìa bóng tối

 

Khi nói đến ánh sáng trong lịch sử cứu chuộc, chúng ta thấy nó xuất hiện ngay từ thuở nguyên sơ bình minh của nhân loại. Sách Sáng Thế đã cho thấy rõ vai trò của ánh sáng khi ánh sáng xuất hiện trong công cuộc tạo dựng.

 

Lúc ban đầu, mọi sự còn trong tình trạng hỗn mang, nhưng khi ánh sáng hiện hữu, tức thì một lằn ranh giữa ánh sáng và bóng tối xuất hiện. Nhờ vào ánh sáng, mọi vật được quang hợp và nhờ đó mà có sự sống.

 

Sau khi sáng tạo trời đất và con người, Thiên Chúa đã dùng ánh sáng để phân biệt ngày và đêm cũng như để cho con người được sống trong ánh sáng.

 

Như vậy, tác giả sách Sáng Thế cho thấy: Ánh sáng được biểu trưng cho sự sống. Còn bóng tối là hình ảnh của sự chết.

 

Tuy nhiên, vì bóng tối là hình ảnh của sự chết, nên nó đối lập với ánh sáng là biểu tượng của sự sống! Vì vậy, nó đã không ngừng len lỏi vào trong tâm khảm của con người, khiến con người hướng chiều về nó và muốn thoát ra khỏi ánh sáng để mong ước đạt được một cái gì đó tốt đẹp hơn hiện tại!

 

Chính vì sự yếu đuối và ngộ nhận này mà Nguyên Tổ của chúng ta là Ađam và Evà đã đi theo bóng tối và có một sự khát khao cuồng tín rằng: Khi đã thoát ra khỏi ánh sáng thì sẽ được ngang hàng với Đấng Tạo Hóa là nguồn Ánh Sáng.

 

Nhưng sự hoang tưởng này đã không đem lại cho ông bà như ý muốn, mà cả hai đã nhận một cái kết đầy đắng cay, đó là: Bị Thiên Chúa trừng phạt và đẩy lùi về với bóng tối khi Người đập tan ý định kiêu ngạo, phá ta niềm hy vọng hão huyền, và đã đuổi ông bà ra khỏi Vườn Địa Đàng là nơi đầy ánh sáng và bình an. Cũng kể từ đó, ông bà không được hưởng hạnh phúc thuở ban đầu, không còn tình nghĩa với Đấng dựng nên mình và cũng kể từ đó, Thiên Chúa đã đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh (x. St 3,24).

 

Cứ thế, trong suốt giai đoạn Cựu Ước, dân chúng đã lầm lũi bước đi trong bóng tối của sự chết.

 

Đây chính là thảm họa buồn mà nhân loại phải lãnh nhận do Nguyên Tổ loài người gây ra.

 

Trước thực trạng ấy, dân mong chờ ánh sáng biết chừng nào! Họ mong chờ một nguồn ánh sáng đến để giải cứu họ thoát khỏi bóng tối tử thần, thoát khỏi sự đau khổ, chết chóc và thân phận nô lệ đắng cay.

 

2. Đức Giêsu là Ánh Sáng chiếu soi thế gian

 

Niền hy vọng của họ đã thấu tới trời cao và đã được Thiên Chúa xót thương khi sai Con của Người xuống thế là Đức Giêsu Kitô. Khi Đức Giêsu đến, Ngài đã thực thi sứ vụ Thiên Sai trong vai trò giải thoát và chiếu giãi Ánh Sáng vào trong bóng đêm tội lỗi.

 

Đây là niềm vui mừng khôn xiết, vì: “Dân tộc bước đi trong u tối, đã nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết”; “Họ sẽ vui mừng trước nhan Chúa, như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt lúa, như những người thắng trận hân hoan vì chiến lợi phẩm, khi đem của chiếm được về phân chia. Vì cái ách nặng nề trên người, cái gông nằm trên vai, cái vương trượng quyền của kẻ áp bức. Chúa sẽ nghiền nát ra, như trong ngày chiến thắng Mađian” (x. Is 9, 1-3).

 

Như vậy, khi mừng sinh nhật của Đức Giêsu vào lúc nửa đêm, lúc mà ngày cũ đã chấm dứt và nhường chỗ cho một ngày mới bắt đầu, Giáo Hội muốn làm toát lên ý nghĩa cũng như giới thiệu cho mọi người biết rằng: Đức Giêsu chính là Ngày Mới của Thiên Chúa. Ngày Mới này tràn ngập ánh sáng như thuở ban đầu.

 

Cuộc hạ sinh của Đức Giêsu cũng được ví như một cuộc tạo dựng mới. Một cuộc tạo dựng hoàn toàn tinh tuyền không vướng nhơ tội lỗi bởi một người Mẹ là Đức Maria đồng trinh, bởi một vị cha nuôi là thánh Giuse - Đấng Công Chính, và trên hết, Đức Giêsu xuất phát từ “Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật” (Kinh Tin Kính).

 

Chính vì lẽ đó mà Đức Giêsu đã khẳng định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12).

 

3. Đón nhận và bước đi trong Ánh Sáng

 

Đi theo ánh sáng hay sống trong bóng tối? Đây là câu hỏi muôn thuở được đặt ra cho chúng ta. Đây cũng là thách đố đầy cam go và kịch tính mà ai ai cũng phải đối diện trong đời sống thường ngày.

 

Chính vì thấu hiểu sự giằng co này mà thánh Gioan đã phải thốt lên: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11).

 

Đây là câu chuyện buồn của hơn 2000 năm qua. Đây cũng là sự giằng co nội tâm của mỗi người chúng ta. Một cuộc nội chiến không ngừng diễn ra ngay trong nội tại của mỗi người.

 

Chính vì vậy, đã biết bao lần, chúng ta không ngừng chiến đấu để mình thuộc về Ánh Sáng và đẩy lui bóng tối ra khỏi cuộc đời mình. Tuy nhiên, bóng tối bao giờ cũng hấp dẫn và ánh sáng bao giờ cũng là kẻ thù của bóng tối, vì thế, lằn ranh giữa ánh sáng và bóng tối rất mong manh, khiến cho biết bao người đã ngã quỵ trước ma lực của bóng tối.

 

Đứng trước thách thức đó, thánh Phaolô đã mời gọi chúng ta: “… phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2, 12- 13). Thi hành điều đó, ấy là chúng ta đang đi trong ánh sáng của đường lối cứu chuộc mà Đức Giêsu đã đem lại cho nhân loại. Đồng thời cũng trở thành con người xứng đáng với tước vị làm Con Thiên Chúa (x. Ga 1,12).

 

Tuy nhiên, tin và bước theo Ánh Sáng không thôi thì chưa đủ, mà phải trở thành ánh sáng soi đường cho người khác để họ cũng được hưởng niềm vui do ánh sáng đem lại như lời Đức Giêsu đã nói: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”;  và: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời” (Mt 5, 14.16).

 

Vậy ánh sáng của chúng ta là gì? Thưa! Ánh sáng của chúng ta chính là một đời sống đạo chân thành; một mối tương quan thật thà thẳng thắn; lương thiện trong công việc; khiêm nhường trong cuộc sống; bác ái, yêu thương, liên đới với người nghèo… Những đức tính này giúp ta và anh chị em của mình vượt ra khỏi bóng tối là sự ích kỷ, kiêu ngạo, bảo thủ, ghét ghen, dửng dưng, vô cảm, gian dối, thất tín…

 

Mong sao mỗi khi mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta hãy khao khát cho mình được thuộc về Ánh Sáng để được cứu độ. Đồng thời cũng không ngừng khát khao loan truyền Ánh Sáng sự sống ấy cho mọi người chung quanh bằng chính cuộc sống gương mẫu của mình. Amen.


  • Chúa Nhật 12 Thường Niên B

    Lễ Sinh Nhật Gioan Tẩy Giả

  • Cầu nguyện
  • Tiêu đề:
    Lời nguyện cầu:
  • Hình ảnh
  • Đóng góp tài trợ
  • Nối kết
  • TOP